trong hôm nay
trong hôm nay
|
Cây và củ bạch cập.
|
Dược liệu có hình bánh dày dẹt phẳng, có ngạnh, mặt ngoài có vân nhỏ đồng tâm, chất cứng chắc, khó bẻ gãy, mặt cắt giống chất sừng. Thứ củ mập dày, màu trắng đục, chất đặc rắn là loại tốt. Thành phần hóa học của bạch cập gồm tinh bột 30%, chất nhầy và ít tinh dầu.
Trong y học cổ truyền, bạch cập có vị đắng, ngọt, hơi dính, tính lạnh, không độc, có tác dụng bổ phổi, cầm máu, sinh cơ, làm tan máu ứ, hàn vết thương, được dùng trong những trường hợp sau:
Dùng trong
Chữa chảy máu cam: Bạch cập phơi khô kiệt, tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 - 8g. Đồng thời lấy bông thấm thuốc nhét vào lỗ mũi.
Chữa thổ huyết, chảy máu dạ dày: Bạch cập 100g, tam thất 50g, tán bột ngày uống 6 - 12g chia làm 2 - 3 lần.
Chữa loét dạ dày, phân đen: bạch cập 40g, trầm hương 20g, hoài sơn 20g (sao). Tất cả tán thành bột mịn, mỗi lần uống 12 - 20g vào lúc đói.
Dùng ngoài
Chữa mụn nhọt, sưng tấy, bỏng lửa: Bạch cập phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, hòa vào dầu vừng bôi hàng ngày.
Chữa vết thương: Bạch cập 20g tán bột, bồ hóng 10g, vôi bột 20g. Tất cả trộn đều, ngày rắc 2 - 3 lần trong nhiều ngày hoặc bạch cập 20g, lá bông ổi 30g, gừng khô 10g, phơi khô tán bột mịn, rắc lên vết thương đang chảy máu, máu sẽ cầm ngay.
Hoặc bạch cập 50g, thạch cao 50g, phơi khô, tán nhỏ, rây mịn. Khi dùng, rửa vết thương bằng nước lá trầu không (20 lá trầu, rửa sạch đun với 1 lít nước để nguội, lọc, cho 2g phèn phi đã tán nhỏ, khuấy cho tan). Rắc bột lên vết thương, băng lại, ngày làm 1 lần.
TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích
Ý kiến trao đổi