Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CHÚT KỈ NIỆM

    HÌNH ẢNH KỈ NIỆM

    Tài nguyên dạy học

    CÁC THÀNH VIÊN

    LIÊN KẾT WEB

    • (
  • ()
  • (Hà Nội
    Đồng Hới
    Huế
    TP.HCM
    )
  • ()
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    KHÔNG GIAN ĐẸP

    ĐIỂM TIN GIÁO DỤC

    Ảnh ngẫu nhiên

    Trang_My_Dung.flv LONG_ME2.swf THIEN_CHUC.swf ME_TOI.swf Chuc_mung_832013.swf Happy_new_year.swf Thiep_moi_sinh_nhat_Thanh_Nghi19.swf P10200941.jpg Tro_lai_mua_he2.swf Cho_thang_tu_that_hien.swf 2ba_Trung_tr6bd0cbbff.jpg Chuc_mung_ngay_Quoc_te_phu_nu_thiep_23.swf NOI_VONG_TAY_LON__PHAN_1.flv HAPPY_NAW_YEAR.swf Bai_ca_co_giao_tre.mp3 Ntnam_xua4.swf

    VỀ ĐẦU TRANG

    NHẠC TÔI YÊU

    Chào mừng quý vị đến với Website Phạm Thị Hương Lan.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Chăm sóc sức khoẻ > Y học cổ truyền >

    Bạch cập chữa loét dạ dày

     Cây và củ bạch cập.
    Bạch cập (Bletia hyacinthine R.Br. ex Ait), tên khác là liên cập thảo, là một cây thảo, địa sinh, sống lâu năm. Thân rễ chia nhánh hình cầu, dẹt, xếp thành chuỗi lá dài có bẹ mọc ốp vào nhau thành 2 dãy. Hoa màu hồng tím mọc thành chùm ở ngọn. Quả nang hình thoi. Thân rễ (thường gọi là củ) là bộ phận dùng làm thuốc duy nhất của bạch cập được thu hái tốt nhất vào mùa thu đông, cắt bỏ gốc thân và rễ con, rửa sạch, đem đồ hoặc nhúng vào nước sôi cho đến khi mặt trong và thân rễ có màu trắng đục, rồi bóc vỏ ngoài phơi nắng nhẹ hoặc sấy nhỏ lửa cho khô.

    Dược liệu có hình bánh dày dẹt phẳng, có ngạnh, mặt ngoài có vân nhỏ đồng tâm, chất cứng chắc, khó bẻ gãy, mặt cắt giống chất sừng. Thứ củ mập dày, màu trắng đục, chất đặc rắn là loại tốt. Thành phần hóa học của bạch cập gồm tinh bột 30%, chất nhầy và ít tinh dầu.

    Trong y học cổ truyền, bạch cập có vị đắng, ngọt, hơi dính, tính lạnh, không độc, có tác dụng bổ phổi, cầm máu, sinh cơ, làm tan máu ứ, hàn vết thương, được dùng trong những trường hợp sau:

    Dùng trong

    Chữa chảy máu cam: Bạch cập phơi khô kiệt, tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 - 8g. Đồng thời lấy bông thấm thuốc nhét vào lỗ mũi.

    Chữa thổ huyết, chảy máu dạ dày: Bạch cập 100g, tam thất 50g, tán bột ngày uống 6 - 12g chia làm 2 - 3 lần.

    Chữa loét dạ dày, phân đen: bạch cập 40g, trầm hương 20g, hoài sơn 20g (sao). Tất cả tán thành bột mịn, mỗi lần uống 12 - 20g vào lúc đói.

    Dùng ngoài

    Chữa mụn nhọt, sưng tấy, bỏng lửa: Bạch cập phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, hòa vào dầu vừng bôi hàng ngày.

    Chữa vết thương: Bạch cập 20g tán bột, bồ hóng 10g, vôi bột 20g. Tất cả trộn đều, ngày rắc 2 - 3 lần trong nhiều ngày hoặc bạch cập 20g, lá bông ổi 30g, gừng khô 10g, phơi khô tán bột mịn, rắc lên vết thương đang chảy máu, máu sẽ cầm ngay.

    Hoặc bạch cập 50g, thạch cao 50g, phơi khô, tán nhỏ, rây mịn. Khi dùng, rửa vết thương bằng nước lá trầu không  (20 lá trầu, rửa sạch đun với 1 lít nước để nguội, lọc, cho 2g phèn phi đã tán nhỏ, khuấy cho tan). Rắc bột lên vết thương, băng lại, ngày làm 1 lần.

    TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thị Hương Lan @ 19:16 25/08/2009
    Số lượt xem: 559
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến